Xem thêm dự án: email marketing - phần mềm email marketing tốt nhất - pr online - dịch vụ thám tử
Trong số 10 thương vụ mua bán sáp nhập trị giá hơn một tỷ USD của nhà đầu tư trong nước tính từ đầu năm 2012 đến quý I/2013, M&A bất động sản dẫn đầu, chiếm tỷ lệ 56%.
Báo cáo của Vietnam M&A 2012 Report and 2013 Outlook, bất động sản dẫn đầu top 10 thương vụ mua bán – sáp nhập trong nước lớn nhất tính từ quý I/2012 đến quý I/2013 với 4 giao dịch, trị giá 607,9 triệu USD.
Thương vụ Tập đoàn Phát triển Hạ tầng và Bất động sản Việt Nam mua
khu phức hợp Vincom Center A dẫn đầu top này. Kế đến là Công ty Đầu tư
và Phát triển Đô thị Sài Đồng mua 31,57% cổ phần Công ty Phát triển đô
thị Nam Hà Nội.
Hai giao dịch mua bán sáp nhập bất động sản còn lại
thuộc về Hanel và FLC Group. Công ty Điện tử Hanel đã thâu tóm 70% vốn
góp của đối tác Hàn Quốc là Daewoo E&C tại dự án khách sạn Daewoo
tại Hà Nội. Riêng thương vụ của FLC Group được xếp vào nhóm sáp nhập khi
tập đoàn mẹ mua lại 100% cổ phần FLC Land (công ty con).
Xếp sau bất động sản, ngân hàng có 5 thương vụ M&A, tổng giá trị đạt 387,1 triệu USD. Trong 5 giao dịch này, chỉ có một trường hợp sáp nhập.
Đó là việc Ngân hàng Sài Gòn Hà Nội (SHB) mua 100% cổ phần của Habubank
với giá 192,9 triệu USD. 4 giao dịch còn lại do Eximbank, ông Trầm Bê
và gia đình, Viettel, DOJI và các đơn vị trực thuộc lần lượt mua cổ phần
của các ngân hàng: Sacombank, MB Bank và Tiên Phong Bank.
Nông nghiệp và thủy sản chỉ có một thương vụ M&A trong 15 tháng qua. Đó là giao dịch Masan Group mua 40% cổ phần Proconco trị giá 96 triệu USD.
Theo dự báo của VinaCapital, bất động sản tiếp tục là kênh có tiềm năng M&A
lớn trong năm 2013-2014. Doanh nghiệp Việt Nam có nhiều lợi thế mua lại
những tài sản đang hoạt động, tọa lạc tại vị trí đắc địa. Tuy nhiên,
VinaCapital cho rằng điểm yếu của các công ty Việt Nam là gặp khó khăn
khi tiếp cận nguồn vốn và còn nhiều hạn chế trong quản lý.
Thứ Năm, 4 tháng 9, 2014
địa ốc ồ ạt M&A đầu năm
Thứ Tư, 3 tháng 9, 2014
M&A toàn cầu lên cao nhất trong 7 năm - mua ban sap nhap
Giá trị mua bán sáp nhập (M&A) toàn cầu đã chạm 1.750 tỷ trong nửa đầu năm, tăng 75% so với năm ngoái và cao nhất kể từ 2007.
Việc này phản ánh sự thay đổi tư tưởng tại cả Mỹ, châu Á và châu Âu. Những lo ngại rủi ro sau khủng hoảng tài chính đã bị đẩy sang một bên. Các công ty cũng ngày càng tin rằng M&A sẽ thúc đẩy tăng trưởng mạnh hơn là cứ kinh doanh như hiện nay. Giá trị M&A tại cả 3 châu lục đều tăng trong 6 tháng qua với rất nhiều giao dịch bằng tiền mặt.
Tại Mỹ, số thương vụ M&A từ đầu năm đã đạt 748,5 tỷ USD, tăng gần 75% so với cùng kỳ năm ngoái. Tại châu Á – Thái Bình Dương, con số này đạt gần 330 tỷ USD, tăng 85% và là tốt nhất kể từ khi Thomson Reuters theo dõi năm 1980. M&A châu Âu cũng đang nóng trở lại với 509 tỷ USD được thông báo, gấp đôi năm ngoái.
Peter Tague – đồng giám đốc bộ phận M&A toàn cầu của Citi cho biết: “Các công ty đang bắt đầu chấp nhận rằng thế giới biến động chúng ta đang sống đã bước sang giai đoạn mới. Sẽ luôn có những vấn đề như Iraq hay khủng hoảng nợ đâu đó. Họ cũng nhận ra tăng trưởng trong môi trường này không thể dựa vào cắt giảm chi phí và các hoạt động kinh doanh hiện tại. Việc này khiến chúng tôi cho rằng triển vọng M&A đang rất sáng sủa”.
Sự phục hồi này xuất hiện tại tất cả lĩnh vực, trừ tài chính do các quy định quản lý quá chặt chẽ. “Tín dụng dồi dào và chi phí đi vay thấp đã khiến M&A nở rộ. Tuy nhiên, các thương vụ M&A được thực hiện chủ yếu vẫn do chiến lược của các công ty”, Gilberto Pozzi – Giám đốc M&A khu vực châu Âu, Trung Đông và châu Phi của Goldman Sachs cho biết trên Financial Times.
“Rất nhiều thương vụ đã được cân nhắc từ lâu rồi. Nhưng một năm gần đây, các lãnh đạo mới đủ dũng cảm để thực hiện”, Robert Rankin – đồng giám đốc mảng ngân hàng doanh nghiệp và chứng khoán tại Deutsche Bank cho biết.
Y tế là ngành có hoạt động mua bán – sáp nhập sôi nổi nhất với giá trị lên tới 317 tỷ USD, cao nhất từ trước đến nay. Rất nhiều hợp đồng trị giá trên 10 tỷ USD, như Medtronic (Mỹ) mua Covidien (Ireland) với 48 tỷ USD hay Valeant (Canada) mua Allergan (Mỹ) với 62,5 tỷ USD. Số liệu ngành này lẽ ra sẽ còn cao hơn nữa nếu thương vụ Pfizer và AstraZeneca thành công.
Chuyên gia Nhật nhật định M&A Việt Nam tốt hơn nhiều nước ASEAN
Xem thêm dự án tại: email marketing - pr online - marketing online - dịch vụ thám tử - mua bán sáp nhập
Mua bán sáp nhập – Giám đốc điều hành Recof công ty tư vấn mua bán-sáp nhập của Nhật – Masataka Yoshida đánh giá Việt Nam là thị trường M&A lớn thứ hai của doanh nghiệp nước này tại Đông Nam Á.
Ông Masataka Yoshida đánh giá Việt Nam là thị trường M&A lớn thứ hai với nhà đầu tư Nhật Bản trong khu vực Đông Nam Á.
|
Thứ Năm, 28 tháng 8, 2014
Mua bán và sáp nhập bất động sản tăng mạnh - m&a
Theo Savill Việt Nam, hoạt động mua bán và sáp nhập (M&A) trong thị trường bất động sản Việt Nam có sự hồi phục trở lại trong nửa đầu năm nay và kỳ vọng có nhiều dấu hiệu tăng trưởng cả về lượng giao dịch cũng như giá trị giao dịch.
Thống kê của Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho thấy cả nước thu hút 5,7 tỉ đô la vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) giải ngân vào nửa đầu năm nay, tăng 1% so với cùng kì năm trước.
Vốn FDI rót vào lĩnh vực bất động sản chiếm 10%, chủ yếu thông qua hoạt động M&A. Đơn cử trong tháng 1- 2014 tập đoàn Tung Shing ở Hong Kong đã mua 53% cổ phần của khách sạn Movenpick Sài Gòn. Sau đó, Lotte Mart, tập đoàn bán lẻ hàng đầu Hàn Quốc đã mua lại Pico Plaza để mở rộng hoạt động…
Chưa hết, các giao dịch M&A trong nước cũng tạo được sự chú ý, cụ thể tháng 5 vừa qua, Hoàng Anh Gia Lai đã công bố rút vốn khỏi dự án Đông Nam tại TP.HCM và chuyển giao cho công ty Him Lam.
Theo ông Sử Ngọc Khương, Giám đốc Đầu tư công ty Savills Việt Nam: “Thị trường sẽ tiếp tục có nhiều thương vụ chuyển nhượng các dự án phát triển nhà ở, bao gồm phân khúc căn hộ, bất động sản gắn liền với đất và khu dân cư. Sự quan tâm của các nhà đầu tư Nhật Bản và Hàn Quốc, vốn chiếm phần lớn các hoạt động M&A trong hai năm qua, dự kiến sẽ tiếp tục tăng. Bên cạnh đó, chúng tôi cũng nhìn thấy nhu cầu ngày càng tăng từ các nhà đầu tư Singapore và Đài Loan ở phân khúc nhà ở và văn phòng. Dự kiến sẽ tiếp tục có nhiều hoạt động ở hai phân khúc này trong những tháng cuối năm 2014 và trong năm 2015”.
Quy trình sáp nhập doanh nghiệp-M&A
M&A – Quy trình sáp nhập doanh nghiệp được tiến hành theo các bước sau:
Bước 1: Chuẩn bị sáp nhập
+ Lập và phê duyệt phương án kinh doanh tiền khả thi
+ Tìm kiểm, kiểm tra, phân tích mức độ hợp pháp đối với trụ sở doanh nghiệp;
+ Xây dựng ý tưởng và kiểm tra mức độ hợp pháp đối với tên công ty sáp nhập
+ Xây dựng ngành nghề doanh nghiêp phù hợp với ngành nghề đã đăng ký
+ Nghiên cứu và kiểm tra quy định pháp luật đối với người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp;
+ Phân tích các quy định pháp luật khác liên quan đến vấn đề sáp nhập doanh nghiệp
Bước 2: Hoàn thiện hồ sơ thành lập doanh nghiệp
+ Chuẩn bị hồ sơ, tài liệu liên quan đến thủ tục sáp nhập doanh nghiệp;
+ Xây dựng quy chế hoạt động doanh nghiệp;
+ Xây dựng mô hình và cơ cấu tổ chức doanh nghiệp
Bước 3: Nộp hồ sơ tại bộ phận tiếp nhận và trả kết quả Sở kế hoạch & Đầu tư
+ Nếu hồ sơ đầy đủ và hợp lệ, bộ phận tiếp nhận và trả kết quả ra phiếu nhận và hẹn ngày trả kết quả;
+ Nếu hồ sơ chưa đúng, bộ phận tiếp nhận và trả kết quả yêu cầu bổ sung;
+ Nếu hồ sơ thiếu: bộ phận tiếp nhận và trả kết quả ra văn bản yêu cầu bổ sung.
Bước 4: Nhận kết quả Đăng ký kinh doanh:
+ Xuất trình giấy hẹn nhận kết quả
+ Nộp lệ phí Đăng ký kinh doanh
+ Nhận kết quả Đăng ký kinh doanh
+ Thực hiện thủ tục khắc dấu pháp nhân
Thứ Ba, 26 tháng 8, 2014
Triển vọng hoạt động mua bán và sáp nhập (M&A) ở Việt Nam
Bất chấp những bất ổn kinh tế gần đây cả trong nước và trên thế giới, kể từ năm 2008, các giao dịch M&A tại Việt Nam đã gia tăng đáng kể cả về số lượng cũng như giá trị giao dịch. Bên cạnh đó, vẫn còn tồn tại những rủi ro như: sự trượt giá của đồng Việt Nam mặc dầu đã tương đối ổn định; thâm hụt thương mại và ngân sách, áp lực từ hệ thống ngân hàng, sự yếu kém của các doanh nghiệp quốc doanh, nhu cầu phát triển cơ sở hạ tầng cũng như sự yếu kém trong bảo vệ bản quyền sở hữu trí tuệ.
Theo chuyên gia Carl Gordon giám đốc trưởng bộ phận tài chính doanh nghiệp nhận xét về xu hướng chính trị của thị trường M&A trong thời gian tới:
- Vốn đầu tư tiếp tục được thu hút mạnh mẽ thông qua các hoạt động M&A với nhà đầu tư chủ yếu đến từ khu vưc Châu Á Thái Bình Dương, đặc biệt là Nhật Bản và Hàn Quốc.
- Các công ty trong nước tiếp tục gia tăng hoạt động M&A khi thị trường trong nước phát triển hoàn thiện, trong khi đó hoạt động đầu tư M&A của các công ty Việt Nam ra nước ngoài còn hạn chế.
- Đặc điểm về dân số học cũng triển vọng tăng trưởng GDP là những động lực thúc đẩy khối lượng giao dịch. Các ngành hấp dẫn đầu tư nhất là các lĩnh vực hàng tiêu dùng, chăm sóc sức khỏe, nông nghiệp và giáo dục.
- Các nỗ lực của Chính phủ trong việc khuyến khích đầu tư vào các doanh nghiệp nhà nước sẽ vẫn tiến triển chậm và sẽ có ít hoạt động trong lĩnh vực này. Tuy nhiên, trong dài hạn, khu vực này sẽ có nhiều tiềm năng với những thương vụ có giá trị lớn từ hoạt động cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước.
- Việc sáp nhập trong lĩnh vực ngân hàng sẽ tiếp tục diễn ra mặc dù tiến triển sẽ chậm hơn so với dự định.
Việc thâm nhập vào thị trường rộng lớn đang tăng trưởng mạnh được xem là yếu tố quan trọng thúc đẩy hoạt động M&A tại Việt Nam trong tương lai. Mở rộng hoạt động kinh doanh ở thị trường nội địa và thâm nhập vào các lĩnh vực tăng trưởng cao cũng được xem là những động lực cho các tập đoàn kinh tế hướng tới việc cũng cố vị trí trên thị trường, đa dạng hóa hoạt động kinh doanh.
Thứ Hai, 25 tháng 8, 2014
Những rào cản, rủi ro trong M&A tại Việt Nam
Mời các bạn xem thêm: pr online,marketing online, phương pháp email marketing, email marketing
Bên cạnh những lợi ích mà M&A mang lại, M&A
tại Việt Nam trong thời gian qua cũng gặp không ít những rủi ro và rào
cản. Những rủi ro và rào cản này xuất phát từ chính bản thân doanh
nghiệp thực hiện M&A và xuất phát từ môi trường bên ngoài doanh nghiệp.
1. Những rào cản trong M&A tại Việt Nam
Tư duy và văn hóa: Các doanh nghiệp Việt Nam rất coi trọng vấn đề sĩ diện “bị” mua,
hay đôi khi, lợi ích cá nhân còn quan trọng hơn mục tiêu của công ty.
Văn hóa Á Đông đặt nặng liên hệ gia đình nên phần lớn những doanh nghiệp
vừa và nhỏ vẫn là một thực thể do “gia đình trị”. Mỗi người Việt Nam là
một ông trời con (dưới mắt họ) nên sự sáp nhập bình đẳng và lâu dài giữa 2 doanh nghiệp Việt Nam là điều khó xảy ra. Thường thường thì “cá lớn nuốt cá bé” (mua lại chứ không sáp nhập), nhưng những con cá bé lại có nhiều thủ thuật có thể làm cho cá lớn bị mắc nghẹn hay đau dạ dày liên tục.
Minh bạch và trung thực: Những số liệu về tài chính và hoạt động mà các doanh nghiệp Việt Nam công bố. Rất nhiều báo cáo được ngụy tạo và che đậy, khiến bức tranh toàn cảnh khó mà hình dung. Quan trọng hơn là những khoản nợ bị che dấu, những tài sản đựơc thổi phồng, việc thiếu thuế chính phủ, hay việc giấy phép không rõ ràng. Doanh nhân Việt Nam cũng bị tiếng xấu là hay “nổ” về khả năng và tiềm lực. Không có minh bạch trung thực, thì việc liên doanh khó tồn tại lâu dài. Khi nhà đầu tư đã mất niềm tin, thì sớm muộn gì, họ cũng phải bỏ chạy.
Khía cạnh pháp lý: Pháp luật Việt Nam quá phức tạp. Khi tiến hành một hoạt động M&A thường thì phải thông qua 7 luật khác nhau (luật doanh nghiệp, luật đầu tư, luật cạnh tranh, luật chứng khoán, luật môi trường, luật mua bán tài sản, luật nhà đất). Ngay cả khi 2 bên đều là doanh nghiệp trong nước, các thủ tục pháp lý cũng không dễ dàng gì. Mọi chậm trễ về thời gian đều tốn kém và có thể làm người mua hay bán mất động lực và đổi ý.
Định giá doanh nghiệp: Doanh nhân Việt Nam thường định giá mua bán trên số tiền họ đã đầu tư. Trong khi đó, người Âu Mỹ lại dựa vào giá thị trường hay dòng tiền. Đây thường là một mâu thuẫn khó giải quyết nếu các con số này cách biệt nhau quá xa. Một vài doanh nghiệp lớn nhiều hiểu biết có thể đồng ý sử dụng một nhà định giá độc lập, nhưng phí tổn và nghi ngại thường làm doanh nhân Việt Nam (bán hay mua) không đồng ý. Một yếu tố nữa là việc định giá các tài sản vô hình (công nghệ, thương hiệu, kinh nghiệm know-how…) gây rất nhiều tranh cãi vì doanh nhân Việt Nam vẫn chưa hình dung rõ ràng về giá trị hay những thực thi về bản quyền trí tuệ.
Vốn tài trợ: Hiện nay, các giao dịch M&A thường dựa vào vốn tài trợ của ngân hàng, các quỹ đầu tư hay việc bán cổ phiếu, trái phiếu ra sàn chứng khoán hay các khoản tiền riêng của công ty. Những hình thức tài trợ theo dạng đòn bẫy vẫn chưa đuợc phổ thông và khiến nhiều doanh nhân Việt Nam (bên bán) nghi ngại. Trong tình huống mà lãi suất lên đến 20% tại ngân hàng, các quỹ đầu tư tại VN đã cạn kiệt tiền dư thừa và sàn chứng khoán suy sụp không có thanh khoản, thì việc tài trợ cho dịch vụ M&A sẽ rất khó khăn.
2. Rủi ro trong M&A
Tác động xấu đến sự phát triển của nền kinh tế
- Không phải hoạt động M&A nào cũng làm gia tăng năng lực sản suất và giá trị thị trường, hoạt động M&A tràn lan không suy tính kỹ càng, không có chiến lược quản lý hiệu quả có thể là con đường dẫn đến sự phá sản, gây ra những hoang mang, sự suy sụp cho ngành nghề lĩnh vực mà nó tham gia.
- Mặc dù M&A xuyên quốc gia cũng là một hình thức đầu tư FDI, nhưng M&A không phải là đầu tư xây dựng mới, do đó không những không tạo ra thêm công việc, nghề nghiệp, trái lại còn tinh giản bộ máy hoạt động, đôi khi còn thay đổi cơ cấu, đào thải những lao động không phù hợp, vì vậy làm tăng gánh nặng quản lý của Nhà nước.
- Hoạt động M&A đã tạo ra sân chơi không công bằng cho các doanh nghiệp nhỏ, thông qua M&A các công ty lớn, công ty đa quốc gia có thể thao túng dễ dàng một thị trường nào đó, làm gia tăng tính độc quyền. Đặc biệt với hình thức thao túng cổ phần sẽ là nỗi lo âu của các doanh nghiệp vốn cổ phần còn thấp.
- Hoạt động M&A còn mang một nguy cơ tiềm tàng rất nguy hiểm. Chính hoạt động M&A sẽ làm lụi tàn lòng nhiệt huyết của những nhà quản lý các công ty nhỏ, làm mất đi động lực, sức sáng tạo của quá trình phát triển kinh tế.
Tác động bất lợi đến hoạt động của các doanh nghiệp
- M&A trong nhiều trường hợp sẽ làm giảm tính cạnh tranh trên thị trường khi những doanh nghiệp sau khi sáp nhập có vị trí thống lĩnh trên thị trường.
- M&A thường tạo ra các vấn đề xã hội liên quan đến việc người lao động bị dôi dư do cơ cấu lại hoạt động doanh nghiệp.
- Bên mua lại có thể đánh giá công ty được mua với giá quá cao, thường là do họ quá lạc quan về lợi ích do sự cộng hợp giữa công ty đi mua và công ty được mua.
- Sự khác biệt về văn hóa tổ chức và cách vận hành sẽ tạo ra sự mâu thuẫn dẫn đến tính hiệu quả kinh tế thấp.
Như vậy, rủi ro còn tồn tại khá nhiều trong hoạt động M&A tại Việt Nam nói riêng và thế giới nói riêng. Tuy nhiên, với những tiềm năng trong tương lai của Việt Nam vềcon người, môi trường đầu tư, sự phát triển của khoa học công nghệ, việc gia nhập tổ chức WTO…, hoạt động M&A cho thấy sẽ còn có những bước phát triển thần kỳ hơn trong thời gian tới cả về mặt số lượng lẫn chất lượng. Các doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực này tại Việt Nam dự đoán sẽ nở rộ, dần đi vào chuyên nghiệp, thậm chí phát triển vượt ra khỏi biên giới của quốc gia cùng với khả năng phát triển những phương thức mới.
Chủ Nhật, 24 tháng 8, 2014
M&A – Mua bán và sáp nhập tại Việt Nam
Mời các bạn xem thêm dự án: Pr online, marketing online, quang cao truc tuyen
Trong vòng những năm trở lại đây, hoạt động mua bán và sáp nhập (M&A)
ở Việt nam đã và đang gia tăng nhanh chóng cả về số lượng và giá trị.
Việt Nam được biết đến như là một điểm đến đầu tư hấp dẫn với tiềm năng
tăng trưởng GDP nhanh chóng, dân số trẻ, được đào tạo tốt, dân số tăng
cùng với nhu cầu nâng cao chất lượng cuộc sống, mức thu nhập cũng tăng,
môi trường đầu tư thuận lợi với chi phí thấp và tốc độ đô thị hóa ngày
càng tăng,
Vấn đề kinh tế vĩ mô và mức độ cạnh tranh ngày càng cao từ các nước
trong khu vực và thế giới trong việc thu hút vốn, vấn đề đặt ra không
phải là việc Việt Nam có khai thác hết các tiềm năng của mình hay không
mà câu hỏi đặt ra là khi nào. Đáp án một phần nằm ở cả khu vực kinh tế
tư nhân và nhà nước; sự cần thiết của việc cải cách một cách triệt để và
hiệu quả một số vấn đề như:
- Khu vực doanh nghiệp nhà nước, khuyến khích sự tham gia của tư nhân và nâng cao hiệu quả thông qua tái cơ cấu;
- Lĩnh vực ngân hàng, giải quyết các khoản nợ xấu (NPL) và cải
thiện phương thức quản trị để thúc đẩy luồng tín dụng một cách bền vững
và xây dựng lòng tin vào hệ thống, cùng với iệc đánh giá lại hạn mực tỉ
lệ sở hữu nước ngoài.
- Khuôn khổ pháp lý, các bộ luật về đất đai, lao động, luật phá sản và phát triển thị trường chứng khoán
- Về cơ sở hạ tầng, thiết lập khuôn khổ hợp lý cho hoạt động
hợp tác công tư(PPP) nhằm thu hút vốn cần thiết để thúc đẩy tốc độ tăng
trưởng.
Thị trường M&A
ở Việt Nam được kỳ vọng sẽ tiếp tục giữ được tốc độ phát triển như một
điểm đến đầu tư hấp dẫn trong ngắn hạn bất chấp những vấn đề vĩ mô và sự
cạnh tranh ngày càng cao trong việc thu hút vốn đầu tư trong khu vực.
Việt Nam vẫn là điểm đến đầu tư hấp dẫn
Kỳ vọng về khả năng sinh lời nhanh ngày càng giảm với chỉ có 41% số người tham gia khảo sát xem việc tìm kiếm lợi nhuận ngay lập tức hoặc trong ngắn hạn là động lực chính khi thực hiện đầu tư trong tương lai.
Phải xem xét nhiều công ty mục tiêu để hoàn tất được một giao dịch
Những người tham gia khảo sát đã cân nhắc một số lượng lớn các cơ hội đầu tư trước khi bắt đầu tiến hành và đầu tư vào một công ty mục tiêu (27% số người xem xét hơn 10 công ty mục tiêu). Tìm kiếm công ty mục tiêu thích hợp là một thách thức ở Việt Nam. Lý do chủ yếu là do công ciệc thiếu các giao dịch chất lượng trong hầu hết các lĩnh vực đồng thời thiếu thông tin về công ty chào bán cũng như về thị trường. Phần lớn các nhà đầu tư dựa vào kiến thức của họ về thị trường và các mối quan hệ để tìm kiếm các công ty mục tiêu.
Đối với bên bán, việc quảng bá doanh nghiệp hiệu quả là yếu tố quan trọng trong việc thu hút sự quan tâm và tìm kiếm nhà đầu tư. Sự kết hợp chặt chẽ với các công ty tư vấn tài chính giàu kinh nghiệm sẽ giúp nổi bật được giá trị của doanh nghiệp và các lý do thu hút đầu tư đồng thời có cơ hội tiếp cận được nhiều hơn với giới đầu tư trong và ngoài nước, từ đó sẽ giúp gia tăng cơ hội thành công của giao dịch.
Thứ Năm, 21 tháng 8, 2014
Mua bán và sáp nhập - M&A
1. Mục đích của M&A :
Giành quyền kiểm soát doanh nghiệp ở mức độ nhất định chứ không đơn thuần chỉ sở hữu một phần vốn góp hay cổ phần của doanh nghiệp như các nhà đầu tư nhỏ, lẻ. Vì vậy, khi một nhà đầu tư đạt được mức sở hữu phần vốn góp, cổ phần của doanh nghiệp đủ để tham gia, quyết định các vấn đề quan trọng của doanh nghiệp thì khi đó mới có thể coi đây là hoạt động M&A. Ngược lại khi nhà đầu tư sở hữu phần vốn góp, cổ phần không đủ để quyết định các vấn đề quan trọng của doanh nghiệp thì đây chỉ dược coi là hoạt động đầu tư thông thường.
2. Các hình thức của M&A:
Đa dạng dưới nhiều hình thức như:
- Góp vốn trực tiếp vào doanh nghiệp
- Mua lại phần vốn góp hoặc cổ phần
- Sáp nhập doanh nghiệp
- Hợp nhất doanh nghiệp và chia
- Tách doanh nghiệp
3. Sáp nhập thực chất là một vụ đầu tư:
Với sáp nhập, bạn sẽ có cơ hội mở rộng thị trường đồng thời nâng cao lợi nhuận nhờ lợi thế về tài chính và uy tín.
Theo ước tính của Forrester Research, trong năm 2004, thế giới đã chứng kiến nhiều cuộc mua bán, sáp nhập của hơn 2000 công ty trên khắp các châu lục với mức chi phí lên đến gần 70 tỷ đô la Mỹ. Các vụ sáp nhập xuất hiện khi một công ty A muốn hợp nhất với một công ty B khác để tạo thành một liên minh lớn hơn. Trong một số trường hợp sáp nhập, cả 2 bên đều mong muốn việc hợp nhất. Đây là các vụ sáp nhập đồng thuận. Bên canh đó, còn có một kiểu sáp nhập khác đó là một khi công ty tìm kiếm quyền kiểm soát một công ty khác mà không cần có thoả thuận nào. Đây là trường hợp tiếp quản bất khả kháng. Để tránh trường hợp tiếp bất khả kháng này, các công ty mục tiêu nên tìm cho mình một “ hiệp sĩ trắng”, đó là một công ty X nào đó phù hợp hơn nếu sáp nhập vào. Tất nhiên, một cuộc sáp nhập không dễ dàng như mọi người tưởng tượng. Các công ty phải đưa ra mức giá hấp dẫn, có thể bằng tiền mặt hay cổ phiếu, đẻ thuyết phục cổ động của công ty mục tiêu bán cổ phiếu của họ. Hơn thế nữa, trong cuộc “oanh kích lúc bình minh”, các công ty cần chuẩn bị đầy đủ nguồn tài chính để có thể “ôm” một lượng cổ phiếu nhất định của công ty mục tiêu vào phiên giao dịch đầu tiên trên thị trường chứng khoán. Ngoài ra, trước khi giá thầu được công bố, các công ty cũng cần chuẩn bị trước việc thông tin sáp nhập được tiếi lộ khiến giá cổ phiếu bị đẩy lên cao.
4. Các vụ sáp nhập xảy ra:
Có rất nhiều động cơ trong bấy cứ một cuộc sáp nhập nào. Lý do đầu tiên là để mở rộng và phát triển hơn việc kinh doanh trên thị trường vốn đã rất chật hẹp. Một công ty lớn hơn và tăng trưởng mạnh hơn có thể cố gắng tiếp quản những đối thủ nhỏ hơn để nâng cao vị thế của minh trên thương trường. Thời gian qua, tập đoàn Cisco đã tiến hành một loạt các vụ sáp nhập lớn như mua lại công ty viễn thông Okena với giá 160 triệu USD hay bỏ ra gần nửa tỷ USD dể sáp nhập với Linksys Group, một công ty thiết bị mạng viễn thông … Chính những cuộc sáp nhập này đã mở rộng đáng kể vị thế của Cisco trên thị trường trước những đối thủ cạnh tranh như D-Link…
Trong một vài trường hợp, một số công ty nhỏ có kế hoạch mở rộng thị trường nhưng bị các hang rào về tài chính cũng như vấn đề thanh danh, uy tín cản trở. Do đó,nhứng công ty này chủ động tìm kiếm các đối tác lớn hơn để có những khoản vốn đầu tư cần thiết. Và đến một lúc nào đó, biện pháp sáp nhập sẽ là phương án được ưu tiên hàng đầu.
Những vụ sáp nhập khác lại tìm kiếm sự bảo toàn chi phí bằng việc đẩy mạnh sự hợp nhất các hoạt động kinh doanh.
5. Những thuận lợi và khó khăn trong hoạt động M&A:
Sự phát triển quá nóng của nền kinh tế, việc gia nhập WTO của nước ta, sự cạnh tranh gay gắt giữa các doanh nghiệp …là những dấu hiệu thuận lợi thúc đẩy hoạt động M&A. Tuy nhiên, hoạt động này cũng gặp không ít khó khăn khi thực hiện bởi sự thiếu rõ rang trong các quyđịnh pháp luật, thiếu kiến thức về M&A của các doanh nghiệp và hoạt động kém hiệu quả của các bên tư vấn, môi giới…
a. Thuận lợi trong hoạt động M&A:
- Sự tăng trưởng quá nóng của nền kinh tế tạo nên sự cạnh tranh xuống đáy, nhiều doanh nghiệp đứng trước nguy cơ phá sản. Do vậy,các doanh nghiệp nhỏ có ý định “bán mình” hoặc có xu hướng liên kết với nhau để cùng tồn tại và phát triển. Đây là cơ hội thuận lợi cho các doanh nghiệp mạnh có đủ năng lực tài chính để mua lại các doanh nghiệp nhỏ.
- Việt Nam gia nhập WTO, những chính sách mở cửa và những ưu đãi về thuế của chính phủ khiến cho nhiều nhà đầu tư nước ngoài đánh giá cao cơ hội đầu tư ở Việt Nam. Các nhà đầu tư nước ngoài thưòng có xu hướng lựa chọn M&A như là bước đầu tiên để tiếp cận thị trường Việt Nam.
- Sự cạnh tranh gay gắt trên thị trường khiến nhiều doanh nghiệp phải mở rộng quy mô để cạnh tranh. Vì vậy, các doanh nghiệp lựa chọn hình thức mua bán và sáp nhập như là cách dể kêu gọi vốn, các tiềm lực để tăng năng lực cạnh tranh của mình trên thương trường.
b. Những khó khăn trong hoạt động M&A:
- Hệ thống pháp luật về M&A chưa rõ ràng hoàn chỉnh: Quy định của pháp luật về M&A chưa chi tiết và hoàn chỉnh đặc biệt là sự chồng chéo, xung đột giữa các quy định quản lý, hệ thống luật lệ về M&A. Điều này làm cho chủ thể tham gia hoạt động M&A gặp khó khăn trong việc thực hiện và các cơ quan quản lý khó kiểm soát hoạt động M&A. Hệ thống luật và thông tin bất cân xứng trên thị trường Việt Nam cũng khiến cho vấn đề định giá doanh nghiệp trong những thương vụ mua bán,sáp nhập gặp nhiều khó khăn, nên tỷ lệ thành công của hoạt động M&A là thấp.
- Doanh nghiệp còn thiếu kiến thức về M&A: Nhiều công ty không có hiểu biết cơ bản về nghiệp vụ M&A, kiến thức về M&A của họ còn quá sơ sài. Một số công ty còn chưa biết gì nhiều về các quỹ đầu tư, chưa hiểu các thể thức đầu tư, cách tính toán chiến lược dài hạn…Chính vì thiếu kiến thức nên họ gặp phải không ít bất lợi khi thực hiện M&A.
- Hoạt động của bên trung gian còn kém hiệu quả: Hầu hết hoạt động của M&A đòi hỏi phải có sự tham gia của các nhà tư vấn, môi giới, luật sư, ngân hàng…Tuy nhiên, do có sự hạn chế về hệ thống luật tính chuyên nghiệp, cơ sở dữ liệu thong tin…nên các đơn vị này chưa thể trở thành trung gian thiết lập một “thị trường” để các bên mua – bán gặp nhau. Do các công ty tư vấn M&A của Việt Nam còn thiếu và yếu nên tỷ lệ thành công giao dịch mua bán doanh nghiệp còn thấp.
6. Ưu nhược điểm của M&A, và khả năng áp dụng đối với Việt Nam:
Mỗi hình thức đầu tư có những ưu nhược điểm riêng và áp dụng trong các trường hợp khác nhau. Mua lại và sát nhập có 4 lợi ích cơ bản so với đầu tư mới Hill, 2002.
- Công ty có thể nhanh chóng để hiện diện tại một thị trường nước ngoài hơn là đầu tư mới.
- Bằng hình thức này, công ty có thể ngăn cản các đối thủ cạnh tranh, nhất là trong các thị trường toàn cầu hoá nhanh chóng.
- Công ty mua lại có thể tăng hiệu quả các công ty được mua lại bằng cách chuyển giao công nghệ, vốn và kinh nghiệm quản lý.
- M&As có thể ít rủi ro hơn đầu tư mới và có thể tận dụng được các tài sản giá trị của công ty được mua như mối quan hệ khách hàng, hệ thống phân phối, nhãn hiệu, hệ thống sản xuất. Tuy nhiên, hình thức M&As có nhược điểm là bên mua lại có thể đánh giá công ty được mua với giá quá cao, thường là do họ quá lạc quan về lợi ích do sự cộng hợp giữa công ty đi mua và công ty được mua. Ngoài ra sự khác biệt về văn hoá tổ chức và cách vận hành sẽ tạo ra sự mâu thuẫn dẫn đến hiệu quả kinh tế thấp. Ngược lại, đầu tư mới có lợi thế hơn so với M&As là công ty có thể linh hoạt hơn để có thể tạo ra một công ty theo ý muốn; xây dựng văn hoá tổ chức cho một công ty mới dễ hơn là thay đổi văn hoá từ công ty khác. Đối với các nước đang phát triển như nước ta thì hình thức M&As còn là con đường nhanh chóng hơn để tiếp cận với công nghệ hiện đại cũng như sở hữu được thương hiệu nổi tiếng như đã đề cập ở trên. Nếu chúng ta phải xây dựng từ đầu thì phải mất thời gian quá dài để có thể xây dựng các ngành công nghiệp hiện đại. Còn nếu chúng ta dựa vào nguồn đầu tư từ nước ngoài thì cũng khó thực hiện được. Nếu là các ngành công nghệ cao thì các doanh nghiệp nước ngoài thường đầu tư 100% vốn nước ngoài để bảo vệ công nghệ như Canon, Toyota. Một số công ty lúc mới vào Việt Nam vì chưa am hiểu thị trường thường tiến hành liên doanh với các đối tác Việt Nam nhưng khi đã đứng vững trên thị trường liền tìm cách trở thành doanh nghiệp hoàn toàn vốn nước ngoài, ví dụ như Acecook, Unilever… Cho nên song song với hình thức đầu tư mới, các doanh nghiệp Việt Nam đã đến lúc cần chú ý đến hình thức M&As để khai thác các lợi thế của nó.
Để mua một doanh nghiệp một cách hiệu quả, công ty đi mua phải chú ý cả 4 giai đoạn: lựa chọn công ty mục tiêu, lựa chọn chiến lược mua lại thích hợp và hòa nhập hai tổ chức thành một. Lựa chọn công ty mục tiêu thường dựa vào
(1) tình hình tài chính, vị trí sản phẩm của công ty đó trên thị trường, (2) môi
trường cạnh tranh, (3) năng lực quản lý và (4) văn hóa doanh nghiệp.
Doanh nghiệp Việt Nam ngoài các yếu tố trên còn phải lựa chọn công ty mục tiêu có thể thực hiện mục tiêu lâu dài là nâng cao vị thế cạnh tranh trên thị trường thế giới và hiện đại hóa. Lựa chọn chiến lược và thời điểm để tiến hành mua lại rất quan trọng vì nó quyết định sự thành công và giá mua. Để mua lại hiệu quả nhất, công ty đi mua phải thuyết phục công ty mục tiêu là mua lại sẽ đem lại lợi ích cộng hợp lớn hơn vì các công ty này thường muốn bảo vệ các cổ đông cũng như nhân viên của họ. Các công ty ở Việt Nam có lợi thế về nguồn lao động rẻ và thị trường tiêu thụ tiềm năng tương đối lớn sẽ là lợi thế để có thể tạo nên lợi ích cộng hợp. Và vấn đề khó khăn cuối cùng là sự hợp nhất của hai công ty. Sự hợp nhất phải bảo đảm được sự cộng hợp để duy trì lợi thế cạnh tranh trong các lĩnh vực như tài chính, sản xuất, nghiên cứu và phát triển hay quản lý. Công ty mẹ ở Việt Nam càng khó khăn hơn vì kiến thức quản trị cũng như kinh nghiệm kinh doanh quốc tế vẫn còn yếu, và đặc biệt và vấn đề văn hóa doanh nghiệp vẫn còn khá mới mẽ đối với các doanh nghiệp Việt Nam. Tuy nhiên nếu các công ty có thể sử dụng lực lượng Việt kiều thì vấn đề khó khăn về nhân sự sẽ được giảm đi đáng kể.
Dự án triển khai: quang cao truc tuyen, email marketing, hieu qua email marketing, marketing online, pr online
Những vấn đề trong sáp nhập | M&A
Sáp nhập doanh nghiệp là việc một hoặc một số doanh nghiệp cùng loại, cùng chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của mình (gọi là doanh nghiệp bị sáp nhập) sang một doanh nghiệp khác (gọi là doanh nghiệp sáp nhập). Doanh nghiệp bị sáp nhập sẽ chấm dứt hợp đồng sẽ chấm dứt sự tồn tại của mình và doanh nghiệp nhận sáp nhập sẽ được hưởng tất cả các quyền cũng như phải gánh vác tất cả các nghĩa vụ của tất cả các doanh nghiệp bị sáp nhập.
2. Các hình thức sáp nhập:
+ Sáp nhập về cổ phần: Được tiến hành khi doanh nghiệp bên mua cổ phần của doanh nghiệp bên bán. Cổ phần này được mua trực tiếp từ cổ đông mà không phụ thuộc vào sự chấp nhận hay không chấp nhận của ban lãnh đạo công ty bên bán. Còn nếu một số cổ đông bên bán mà không bán cổ phần của họ, điều đó sẽ cản trở đến sự sáp nhập của các doanh nghiệp.
+ Sáp nhập về tài sản: Là một hình thức giao dịch mà bên doanh nghiệp mua tài sản của bên bán trực tiếp tù doanh nghiệp,không qua các cổ đông.Bên bán tài sản sẽ chấm dứt mọi hoạt động sau khi đã nhận được tiền của bên mua.Bên bán không còn tài sản để hoạt động và tự giải thể.
3. Những động cơ thúc đẩy sáp nhập doanh nghiệp:
- Về hiệu quả kinh tế: Hiệu quả kinh tế được coi là động lực kinh tế thúc đẩy việc sáp nhập,hợp nhất trên cả các phương diện két hợp theo chiều ngang chiều dọc hay kết hợp cả hai phương thức. Do hợp nhất làm cho quy mô sản xuất lớn hơn,chi phícố định giảm bớt hoặc không tăng, do đó cũng làm tăng hiệu quả sản xuất.
+ Quy mô sản xuất lớn sẽ làm cho hiệu quả của toàn bộ công ty lớn hơn hiệu quả riêng rẽ của các Công ty nhỏ hơn trước khi hợp nhất :Sự kết hợp củahai công ty cũng có thể tạo ra hiệu quả, sẽ làm giảm chi phí quản trị chung,giảm bớt cán bộ quản lý.nhân viên văn phòng,các dịch vụ văn phòng và các chi phí
khác.
- Về hiệu quả tài chính: Hiệu quả tài chính qua các giao dịch mua lại có thể là nguồn lợi nhuận kỳ vọng
hoặc có thể đem lại những khoản tiết kiệm như sự giảm thuế,giảm chi phí phát hành chứng khoán mới,tăng khả năng huy động vốn vay,giảm chi phí sử dụng vốn.
- Về động lực phát triển của doanh nghiệp:
+Phát triển là mục tiêu rất quan trọng của doanh nghiệp,sự phát triển bên trong của bản thân doanh nghiệp là một quá trình phức tạp bởi doanh nghiệp cần đầu tư mua sắm,lắp đặt máy móc thiết bị,xây dựng thêm nhà xưởng,đào tạo nhân công,tìm thị trường tiêu thụ…cần có thời gian chuẩn bị và đầu tư sức người, sức của,cho nên trong nhiều trương hợp,việc sáp nhập một Công ty khác là làm cho hiệu quả và tốn ít thời gian nhất để phát triển quy mô của một doanh nghiệp.
+Việc sáp nhập cũng đạt hiệu quả cao hơn do thế lực cạnh tranh của Công ty sẽ mạnh hơn trước.
4. Các phương pháp:
Khi sáp nhập (hợp nhất hay mua lại) các báo cáo tài chính cũng được kết hợp lại. Có hai phương pháp tập hợp các báo cáo tài chính là phương pháp mua lại và phương pháp gộp lại
- Phương pháp gộp
Một thương hiệu công ty mới được hình thành và cả hai công ty được hợp nhất dưới một pháp nhân mới. Tài chính của hai công ty sẽ được hợp nhất trong công ty mới tức là toàn bộ tài sản và các khoản nợ của hai công ty gộp chung với nhau thành giá trị chung sau khi hợp nhất.
- Phương pháp mua lại:
Như chính cái tên thể hiện loại hình này xảy ra khi một công ty mua lại một công ty khác, việc mua lại được tiến hành bằng tiền mặt hoặc thông qua một số công cụ tài chính. Việc bỏ tiền ra để mua lại này làm tằng giá trịtài sản của công ty bên mua.kêt cả tài sản hữu hình và tài sản vô hình
5-Thủ tục sáp nhập công ty được quy định như sau:
- Các công ty liên quan chuẩn bị hợp đồng sáp nhập và dự thảo Điều lệ công ty nhận sáp nhập. Hợp đồng nhận sáp nhập phải có các nội dung chủ yếu về tên, địa chỉ trụ sở chính của công ty bị sáp nhập ;thủ tục và điều kiện sáp nhập;phương án sử dụng lao động.
- Các thành viên,chủ sở hữu công ty hoặc các cổ đông của các công ty liên quan thông qua hợp đồng sáp nhập, điều lệ công ty nhận sáp nhập và tiến hành đăng kí kinh doanh công ty nhận sáp nhập theo quy định của luật này. Hồ sơ đăng kí kinh doanh phải kèm theo hợp đồng sáp nhập.hợp đồng sáp nhập phải
được gửi đến tất cả các chủ nợ và thông báo cho người lao động biết trong thời hạn mười năm ngày,kể từ ngày thông báo.
- Sau khi đăng kí kinh doanh, công ty bị sáp nhập chấm dứt tồn tại;công ty nhận sáp nhập dược hưởng các quyền và lợi ích hợp pháp, chịu trách nhiệm về các khoản nợ chưa thanh toán, hợp đồng lao động và nghĩa vụ tài sản khác của công ty bị sáp nhập.
Thứ Ba, 19 tháng 8, 2014
M&A – Bài học và các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động mua bán và sáp nhập giữa các ngân hàng tại Việt Nam
Dự án của Vinacontact nên tham khảo: phương pháp email marketing, dich vu email marketing chuyen nghiep
Nhằm giải thích rõ ràng các động lực phía sau hoạt động mua lại và sáp nhập giữa các ngân hàng; phân tích các nhân tố gây khó khăn cho các ngân hàng trong quá trình tham gia hoạt động mua lại và sáp nhập; và gợi mở các giải pháp để nâng cao hiệu quả sáp nhập.
Ở 2 phần trước chúng ta tìm hiểu về cơ sở lý thuyết trong lĩnh vực mua bán và sáp nhập ngân hàng trên thế giới, hoạt động mua bán, sáp nhập của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam và trên thế giới. Phần này chúng ta tiếp tục tìm hiểu về bài học và các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động mua bán và sáp nhập giữa các ngân hàng tại Việt Nam.
Một số bài học cho Việt Nam
- Các bên tham gia vào M&A cần nghiên cứu kỹ văn hóa công ty của mỗi bên để quá trình hợp nhất không bị xung đột về văn hóa và tránh được sự bất ổn về tâm lý của người lao động.
- Cơ cấu và đánh giá nguồn lực là nhiệm vụ rất quan trọng nhằm tìm kiếm nguồn nhân sự cấp cao và cấp trung của các bên tham gia để hình thành đội ngũ quản lý có năng lực và có đóng góp cho hoạt động ngân hàng sau sáp nhập hiệu quả hơn.
- Công tác truyền thông là vấn đề cần được quan tâm ngay sau khi sự thỏa thuận về sáp nhập đã đạt được nhằm tạo niềm tin ổn định cho người lao động, cổ đông và khách hàng. Điều này sẽ giảm thiểu rủi ro từ hệ lụy giữ bí mật thông tin do những tin đồn và trạng thái tâm lý bất ổn gây ra.
Để hạn chế những thách thức nêu trên và gây ra rủi ro cho các ngân hàng sau sáp nhập, những giải pháp sau nhằm hạn chế những rủi ro trên:
• Tăng cường công tác truyền thông trong quá trình sáp nhập nhằm phổ biến thông tin minh bạch, kịp thời, qua đó ổn định tâm lý của nhân viên ngân hàng cũng như ngăn chặn khách hàng rời bỏ ngân hàng.
• Khảo sát toàn diện văn hóa công ty để hiểu những nét văn hóa giống và khác nhau giữa các bên tham gia sáp nhập, do đó hạn chế những phản cảm, xúc phạm trong giao tiếp và làm việc.
• Xử lý hiệu quả nợ xấu nhằm giúp ngân hàng giảm chi phí trích lập dự phòng rủi ro nâng cao năng lực tài chính.
• Xây dựng chương trình đào tạo để giúp nhân viên thích ứng với môi trường làm việc mới, công nghệ mới, quy trình làm việc mới, văn hóa công ty và mục tiêu kinh doanh.
• Quản lý khách hàng hiệu quả tạo niềm tin và giữ khách hàng ở lại, qua đó hạn chế rủi ro thanh khoản và thiếu hụt nguồn vốn cho mục tiêu đầu tư sau khi sáp nhập.
• Sử dụng nhân sự hợp lý sẽ khai thác hiệu quả những nhân tài từ các bên tham gia sáp nhập.
KẾT LUẬN
Như vậy, hoạt động M&A giữa các ngân hàng hiện nay sẽ gặp phải thách thức lớn trong xử lý nợ xấu, xung đột văn hóa công tư, sắp xếp nhân sự và chi phí mua lại ngân hàng mục tiêu. Tất cả các thách thức này nếu không được quản trị tốt sẽ là rủi ro tiềm ẩn cản trở đến hoạt động không hiệu quả của ngân hàng sau sáp nhập. Như vậy, để hạn chế rủi ro xảy ra trong quá tình M&A đề tài đã gợi ý một số giải pháp cụ thể. Một là, Công tác truyền thông cần được quan tâm ngay sau khi thỏa thuận M&A đạt được nhằm tạo ra tâm lí ổn định cho người lao động, cổ đông và khách hàng. Quản lý khác hàng cũng là vấn đề phải được xử lý nhằm xoa dịu sự lo lắng của họ cũng như ngăn chặn tối đa khách hàng chuyển dịch sang ngân hàng khác. Xử lý xung đột văn hóa và sắp xếp nhân sự hợp lý cũng là yếu tố quan trọng nâng cao hiệu quả trong quá trình tích nhập sau sáp nhập và hỗ trợ ngân hàng sau sáp nhập hoạt động trơn tru hơn. Giải pháp cuối cùng là xử lý nợ xấu cần được đặt trong khung cảnh tình hình kinh tế nói chung cũng như thực trạng của ngân hàng nhằm hạn chế sự đuối sức của ngân hàng nếu nóng vội muốn đưa nhanh tỉ lệ nợ xấu về mức độ an toàn cho phép.